Bệnh ung thư máu: nguy cơ, dấu hiệu và biện pháp dự phòng bạn nên biết

Bệnh bạch cầu hay còn gọi là ung thư máu là do sự biến đổi tiền thân của bạch cầu tủy xương thành tế bào ung thư ác tính. Bệnh bạch cầu không hình thành một khối u đơn lẻ như các dạng ung thư khác mà các tế bào ung thư được tìm thấy trong máu tuần hoàn và tủy xương. Đôi khi các tế bào ung thư tích tụ trong các hạch bạch huyết và các cơ quan khác. Một số biểu hiện thường gặp của ung thư máu là: Nhiễm trùng, sốt, đau đầu, mệt mỏi…

benh-ung-thu-mau1
Một số biểu hiện của ung thư máu thường gặp

1. Phân loại bệnh ung thư máu

Bệnh ung thư có thể phân chia thành 02 loại chính:

1.1. Bệnh ung thư máu cấp tính

Bệnh bạch cầu cấp tính phát triển khá nhanh. Các triệu chứng phổ biến nhất là mệt mỏi, đau xương, chảy máu và viêm dai dẳng. Có hai dạng chính của bệnh bạch cầu cấp tính là bệnh bạch cầu cấp dòng tủy và dòng bạch huyết xảy ra ở cả người lớn và trẻ em

Bệnh bạch cầu cấp tính thường được điều trị bằng hóa trị liệu chuyên sâu, có thể có nguy cơ dẫn đến viêm nặng (nhiễm trùng) và các vấn đề khác sau khi điều trị. Tuy có yếu tố nguy cơ những phương pháp hóa trị liều cao rất có hiệu quả với bệnh ung thư máu, vì nếu không điều trị, bệnh bạch cầu cấp tính sẽ nhanh chóng dẫn đến tử vong. Nhờ phương pháp điều trị hiện đại này mà tuổi thọ của bệnh nhân ung thư máu có thể được kéo dài rất nhiều và một tỷ lệ lớn bệnh nhân hồi phục hoàn toàn.

1.2. Bệnh ung thư máu mãn tính

Bệnh bạch cầu mãn tính tiến triển chậm và bệnh nhân có thể không có triệu chứng trong một thời gian dài, mặc dù xét nghiệm máu đã cho thấy bệnh bạch cầu. Có hai loại chính, bệnh bạch cầu mãn tính dòng bạch huyết và dòng tủy. 

Bệnh bạch cầu lymphocytic mãn tính (là một loại bệnh ung thư máu và tủy xương, mô xốp bên trong xương, nơi các tế bào máu được tạo ra) thường xảy ra ở độ tuổi từ 50 đến 60 tuổi. Nó tiến triển chậm và ban đầu thường không có triệu chứng, đó là lý do tại sao nghi ngờ về căn bệnh này thường xuất hiện tình cờ liên quan đến mẫu máu. Triệu chứng điển hình là nổi hạch ở cổ, nách hoặc bẹn.

Bệnh bạch cầu dòng tủy mãn tính thường xảy ra ở độ tuổi từ 40 đến 70 tuổi. Ngày nay, bệnh thường được chẩn đoán tình cờ khi xác định được nguyên nhân gây ra bất thường trong máu.  Bệnh bạch cầu dòng tủy mãn tính có liên quan đến các triệu chứng chung như mệt mỏi, đổ mồ hôi và giảm cân.

2. Yếu tố nguy cơ gây ra bệnh ung thư máu

2.1. Do tăng tiểu cầu quá mức

Tăng tiểu cầu đề cập đến số lượng quá nhiều tiểu cầu trong máu. Thông thường, có 150 đến 360 tỷ tiểu cầu trên một lít máu. Tuy nhiên nếu mắc bệnh ung thư máu thì giá trị tiểu cầu/1 lít máu trên 360 tỷ tiểu cầu.

Số lượng tiểu cầu có thể tạm thời tăng lên trong một số trường hợp, chẳng hạn như khi tập thể dục hoặc sinh con. Con số cũng tăng lên khi mắc các bệnh viêm nhiễm, chảy máu, phẫu thuật, thiếu sắt và một số bệnh ung thư, cũng như sau khi cắt lách. Tình trạng tăng tiểu cầu như vậy được gọi là thứ phát hoặc phản ứng, tức là do bệnh hoặc tình trạng khác gây ra.

Đôi khi tăng tiểu cầu là do rối loạn tủy xương, trong đó sự khiếm khuyết trong tế bào gốc tạo máu dẫn đến sản xuất quá nhiều tế bào máu. Những bệnh như vậy được gọi là tình trạng tăng sinh tủy, trong đó phổ biến nhất là bệnh đa hồng cầu (tăng tế bào máu), tăng tiểu cầu thiết yếu, bệnh xơ hóa tủy.

Tăng tiểu cầu có nguồn gốc từ tủy xương  là một bệnh khá hiếm gặp và chủ yếu xảy ra ở lứa tuổi trung niên trở lên. Nghi ngờ bệnh thường nảy sinh do lượng tiểu cầu trong máu cao. Xét nghiệm máu được thực hiện để kiểm tra bệnh và thường xuyên lấy mẫu tủy xương.

benh-ung-thu-mau2
Trẻ em mắc bệnh Down là một trong những yếu tố nguy có có thể gây ra bệnh ung thư máu

Hơn một nửa số bệnh nhân có một đột biến nhất định trong gen JAK2 trong một xét nghiệm máu, dẫn đến sản xuất quá nhiều tiểu cầu. Ví dụ, một số bệnh nhân không có bất thường trong gen JAK2 có thể có đột biến trong gen MPL hoặc CALR. Nguyên nhân của các đột biến liên quan đến tăng tiểu cầu thiết yếu vẫn chưa được biết.

Các triệu chứng do tăng tiểu cầu quá mức: Tăng tiểu cầu thường không có triệu chứng trong nhiều năm và thường được tìm thấy một cách tình cờ trong các xét nghiệm máu. Dấu vết của tăng tiểu cầu thiết yếu đôi khi được tìm thấy khi một người đã có cục máu đông được kiểm tra công thức máu ban đầu và tìm thấy số lượng tiểu cầu tăng lên. Tăng tiểu cầu thiết yếu có khuynh hướng hình thành cục máu đông. Số lượng tiểu cầu rất cao cũng có thể làm tăng nguy cơ chảy máu.

2.2. Hội chứng Down

Hội chứng Down  là bệnh rối loạn nhiễm sắc thể thường gặp nhất. Nguyên nhân là do nhiễm sắc thể số 21 thừa trong tế bào (tam nhiễm sắc thể 21). 

Trẻ mắc hội chứng Down nhận thấy các đặc điểm khuôn mặt điển hình (mí mắt xiên, sống mũi rộng, lưỡi nhô ra), cổ ngắn, ngón chân cái rộng tạm thời, các khớp tăng vận động, yếu cơ và thường mắc bệnh tim. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng những trẻ em mắc bệnh Down cũng có nguy cơ phát triển bệnh bạch cầu (ung thư máu) cao hơn những trẻ em khác. Những trẻ này thường tăng trưởng kém, thừa cân, dễ bị nhiễm trùng, nhiễm trùng tai mãn tính và mất thính giác, đục thủy tinh thể, suy giáp, bệnh celiac, xu hướng động kinh và sa sút trí tuệ.

Lời khuyên cho bạn là: Bạn cần sàng lọc và chẩn đoán hội chứng Down ngay khi mang thai, nhất là những bà mẹ sinh con muộn (sau tuổi 35). Do nguy cơ sinh con Down tăng mạnh theo tuổi của người mẹ. 

3. Dự phòng bệnh ung thư máu

Các yếu tố góp phần vào sự phát triển của bệnh ung thư máu vẫn chưa được nghiên cứu nào chỉ ra một cách chính xác, chính vì vậy chúng ta cũng không thể đưa ra được biện pháp ngăn ngừa nào hiệu quả tối ưu. Bởi vậy để ngăn ngừa tốt nhất ung thư máu là sàng lọc và phát hiện điều trị sớm ung thư máu. Điều trị ung thư máu bao gồm thuốc gây độc tế bào, thuốc đặc hiệu, xạ trị và trong một số trường hợp có thể cấy ghép tế bào gốc. Tin vui là tiên lượng những người phát hiện ung thư máu ở giai đoạn sớm có thể điều trị khỏi hoàn toàn.

benh-ung-thu-mau3
Sàng lọc phát hiện sớm bệnh ung thư máu có thể chữa khỏi bệnh

Để tìm hiểu sâu hơn về những biện pháp dự phòng và điều trị bệnh ung thư máu hãy liên hệ với chuyên gia của chúng tôi.

Thông tin liên hệ